McDonnell Douglas AV-8B Harrier II

Leave a comment
Air-fighters

McDonnell Douglas AV-8B Harrier II là máy bay thế hệ 2 trong dòng máy bay cất/hạ cánh thẳng đứng/trên đường băng ngắn hay máy bay phản lực đa chức năng V/STOL, loại máy bay này được thiết kế chế tạo vào khoảng cuối thế kỷ 20. Hãng British Aerospace đã nối lại dự án chế tạo nâng cấp loại máy bay V/STOL vào đầu những năm 1980 sau đó dự án được quản lý bởi Boeing/BAE Systems từ thập niên 1990.

AV-8 Harrier II được phát triển từ mẫu máy bay trước đó là Hawker Siddeley Harrier, chủ yếu được sử dụng để tấn công nhanh hay tiến hành các nhiệm vụ đa chức năng, thường được sử dụng trên các tàu sân bay, tàu sân bay loại nhỏ hoặc các sân bay dã chiến. Các phiên bản của Harrier được sử dụng ở vài quốc gia thành viên NATO, bao gồm AnhTây Ban NhaItaly và Hoa Kỳ.

Loại máy bay này mang tên AV-8B Harrier II ở trong lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và Harrier GR7/GR9 trong Không quân Hoàng gia Anh. AV-8B Harrier II được sản xuất bởi hãng McDonnell Douglas nay là Boeing. AV-8A là một thế hệ phát triển sau của Hawker Siddeley Harrier GR.1A được trang bị cho thủy quân lục chiến Mỹ. Cả hai kiểu máy bay này thông thường được quy vào dòng máy bay Harrier Jump-jet – máy bay phản lực lên thẳng Harrier.

Phát triển

Harrier II là một ví dụ điển hình về hợp tác phát triển giữa Anh và Hoa Kỳ gặt hái các thành tựu chế tạo các phương tiện chiến tranh trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Hoa Kỳ đã trợ giúp Anh bằng cách cấp vốn cho những giai đoạn nghiên cứu đầu tiên của máy bay Hawker P.1127 dưới tên gọi của Chương trình phát triển vũ khí chung (MWDP). Các quan chức Mỹ cũng đã cứu chương trình AV-16 Advanced Harrier Program của McDonnell Douglas khỏi bị hủy bỏ, chính những chương trình này đã hình thành nên dòng máy bay thế hệ thứ hai của Harrier.

Douglas McDonnell đã được phép khởi động lại chương trình của riêng mình, lúc này đang tới gần khả năng sản xuất hàng loạt khi British Aerospace (BAe) nối lại chương trình vào thập niên 1980. Họ đã cùng sản xuất chung mẫu máy bay này, và BAe tiếp tục phát triển thế hệ Harrier thứ hai. Vào thập niên 1990, McDonnell Douglas sát nhập vào Boeing, và BAe cũng sát nhập vào BAE Systems, tuy nhiên dự án nghiên cứu phát triển dòng máy bay lên thẳng vẫn được tiếp tục.

AV-8B sau này có nguồn gốc từ chương trình AV-16 cộng tác giữa chính phủ Anh và Mỹ. Tuy nhiên chi phí trong việc phát triển động cơ của Rolls Royce và nghiên cứu tăng cao đã khiến người Anh rút lui khỏi chương trình này.

Chỉ còn người Mỹ quan tâm đến chương trình này, tuy nhiên đây là một dự án ít tham vọng, giá thành lại cao nhưng McDonnell đã tự đứng ra nghiên cứu tiến hành dự án này để đáp ứng nhu cầu của chính phủ Mỹ. Dự án sử dụng những kiến thức có được được từ chương trình AV-16, một số thứ được phát triển thêm như động cơ Pegasus, công việc phát triển tiếp tục đã dẫn đến kết quả là AV-8B dành cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ra đời. Máy bay đã đáp ứng được đúng nhu cầu của Thủy quân lục chiến về một máy bay tấn công đối đất hạng nhẹ và tập trung vào trọng tải cũng như tầm bay nhưng bỏ qua tốc độ. Vào đầu thập niên 1980, Anh khởi động lại sự phát triển Harrier thế hệ thứ 2 của riêng mình dựa vào thiết kế của Mỹ, kết quả của người Anh là loại GR.5.

Hai mẫu thử nghiệm YAV-8B đầu tiên được chuyển đổi từ khung của AV-8A.

Sản xuất

Máy bay được chế tạo bởi McDonnell Douglas và British Aerospace (sau này là BAE Systems), loại máy bay này cũng được chế tạo tại nhà máy Kingston & Dunsfold ở Surrey, Anh. Nhà máy này cũng là nơi chế tạo Hawker Hunter, và BAe Hawk T1.

AV-8B Harrier II

Những chiếc AV-8B Harrier II được sản xuất đầu tiên thường được biết đến như phiên bản “tấn công ban ngày”, những chiếc đầu tiên này hoạt động trong một khoảng thời gian không dài trong biên chế. Phần lớn chúng được nâng cấp thành tiêu chuẩn Night Attack Harrier hoặc Harrier II Plus có khả năng bay đêm và dưới mọi điều kiện thời tiết, những chiếc không được nâng cấp thì bị rút khỏi biên chế.

Trong các cuộc chiến vào năm 1991, phiên bản Night Attack Harrier được trang bị hợp nhất với một camera hồng ngoại dự báo dẫn đường (NAVFLIR). Buồng lái cũng được nâng cấp, bao gồm khả năng tương thích với kính nhìn đêm. Phiên bản mới này được trang bị một động cơ mới mạnh hơn là Rolls Royce Pegasus II. Loại động cơ này trước đấy được dự định để trang bị trên AV-8D.[1]

Harrier II Plus rất giống với phiên bản Night Attack, trang bị radar APG-65 (giống với những chiếc F/A-18 Hornet ban đầu) ở phần khoang mũi khá rộng, điều này giúp cho Harrier có thể sử dụng những tên lửa hiện đại hơn như AIM-120 AMRAAM. Phiên bản này được Thủy quân Lục chiến Mỹ, Hải quân Tây Ban Nha và Hải quân Italia sử dụng.

Đặc điểm kỹ thuật

  • Phi đoàn: 1
  • Chiều dài: 46 ft 4 in (14.12 m)
  • Sải cánh: 30 ft 4 in (9.25 m)
  • Chiều cao: 11 ft 8 in (3.55 m)
  • Diện tích cánh: 243,4 ft² (22.61 m²)
  • Trọng lượng rỗng: 14.865 lb (6.745 kg)
  • Trọng lượng cất cánh: 22.950 lb (10.410 kg)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa:
    • Chạy trên đường băng: 31.000 lb (14.000 kg)
    • Cất cánh thẳng đứng: 20.755 lb (9.415 kg)
  • Động cơ: 1× động cơ phản lực cánh quạt đẩy Rolls-Royce Pegasus 105 chỉnh hướng phụt, 21.750 lbf (96.75 kN)
Hiệu suất và tầm bay
Vũ khí
  • Pháo nhiều nòng GAU-12U “Equalizer” 25 mm (300 viên đạn)
  • Giá treo: 7 điểm mang được 13.200 lb (STOVL) vũ khí, bao gồm các loại bom thường hoặc bom dẫn đường laser, tên lửa AGM-65 Maverick diệt tăng-thiết giáp, tên lửa chống hạm Harpoon hoặc HARM, hệ thống ngắm mục tiêu LITENING, 4 tên lửa AIM-9 Sidewinder, ống phóng rocket LAU-5003 (19 qủa CRV7 70 mm/ống). Radar trang bị cho phiên bản AV-8B+ có thể mang được 4 tên lửa AIM-120 AMRAAM. Hệ thống vũ khí thông minh.
Source: http://vi.wikipedia.org/wiki/AV-8_Harrier_II (có chỉnh sửa)

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Bộ kit em này của Hasegawa khá rẻ, khoảng 280k nhưng chất lượng lại tốt dã man con ngan! Tuy nhiên, có một vài chỗ không được khít lắm, dù đã xử lý kỹ bề mặt, và phần nhựa tui đánh giá Hasegawa không đẹp bằng Italeri, khi mài hay bị tưa tưa – em nói không đúng các cao thủ cứ ném đá em nhé..hic.

Về vũ khí, em này Hasegawa cho khá nghèo nàn, chỉ cho 2 ống pod gắn súng máy 6 nòng  và 2 qủa tên lửa không-đối-không sidewinder và 2 thùng xăng treo cho ngầu. Chắc phải mua bộ vũ khí riêng của Hasegawa độ vào cho bớt trống. Hay…dùng lại đống bom chùm còn thừa khi ráp F-15 Strike Eagle của Academy nhỉ ? chẹp…

Decal thì em này khá no đủ với 2 bộ của US Marines, bulldog và flying tiger. Decal 1:72 đã dán muốn lè lưỡi, 1:144 còn thế nào ta o_O.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s