Dassault Rafale M

Leave a comment
Air-fighters, Dassault

Dassault Rafale là một máy bay chiến đấu đa nhiệm thế hệ 4.5, dùng cánh tam giác và hai động cơ rất nhanh nhẹn của Pháp, được thiết kế và chế tạo bởi hãng Dassault Aviation. Dassault đã sử dụng khái niệm ‘Omni Role’ (mọi nhiệm vụ) làm thuật ngữ tiếp thị nhằm phân biệt loại máy bay này với các loại máy bay chiến đấu ‘đa nhiệm vụ’ (multi-role) khác có phân biệt nhiệm vụ chính và các nhiệm vụ phụ khác. Dassault cũng sử dụng thuật ngữ này để chỉ khả năng chuyển từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ khác của Rafale trong từng phi vụ, dù thuật ngữ này mang nhiều ý nghĩa tóm gọn khả năng thực sự của Rafale thay thế được hoạt động của bảy loại máy bay khác nhau.

Rafale đang được chế tạo để sử dụng cho cả các căn cứ trên mặt đất của Không quân Pháp và trên tàu sân bay của Hải quân Pháp. Nó cũng đã được tiếp thị xuất khẩu, và tuy chưa có hợp đồng nào được ký kết, nhiều nước đã bày tỏ sự quan tâm tới Rafale. Điển hình là vào năm 2008, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất – UAE, ký thỏa thuận với Pháp để mua 60 chiếc tiêm kích Rafale, thế nhưng đến nay (2012) thỏa thuận này đã chính thức đổ vỡ. Tuy nhiên, nghành công nghiệp máy bay – quốc phòng Pháp đã thoát hiểm trong gang tấc sau khi kí được hợp đồng xuất khẩu và chuyển giao công nghệ cho Ấn Độ (đầu năm 2012) với số lượng lên đến 126 chiến đấu cơ Rafale, trị giá hơn 10 tỷ đô-la. Hợp đồng này chưa bao gồm chi phí bảo trì, bảo dưỡng kỹ thuật định kì. Rafale đã xuất sắc vượt qua các đối thủ nặng ký như F-16, F/A 18 Super Hornet, Mig-29 OVT (Mig-35), Eurofighter Typhoon và Jas Grinpen trong cuộc đấu thầu do Ấn Độ tổ chức.

Các biến thể

Rafale A
Đây là một chiếc máy bay trình diễn kỹ thuật cất cánh lần đầu năm 1986, như được miêu tả ở trên. Hiện nó đã ngừng hoạt động.
Rafale D
Dassault đã dùng định danh này (D là viết tắt của discret hay tàng hình) đầu thập niên 1990 cho các phiên bản chế tạo choArmée de l’Air, để nhấn mạnh các tính năng bán tàng hình mà họ đã thêm vào cho kiểu thiết kế này. Nhiều nguồn tin đã thông báo rằng việc phát triển một hệ thống tàng hình tích cực, sẽ liên quan tới việc sử dụng một hệ thống sẽ phát ra các sóng “xóa dấu vết”.[cần dẫn nguồn]
Rafale B
Đây là phiên bản hai chỗ ngồi cho Armée de l’Air; đã được giao hàng cho EC 330 năm 2004.
Rafale C
Đây là phiên bản một cho ngồi cho Armée de l’Air; đã giao hàng cho EC 330 tháng 6 năm 2004.
Rafale M
Đây là phiên bản hoạt động trên tàu sân bay cho Aéronavale, đã đi vào hoạt động năm 2002. Rafale M nặng hơn Rafale C 500 kg (1.100 lb). Bề ngoài rất giống Rafale C, những điểm khác biệt của phiên bản M là:

  • Tăng sức khả năng đáp ứng với các điều kiện khắc nghiệt khi hoạt động trên tàu sân bay
  • Bánh đáp vững chắc hơn
  • Bánh đáp mũi dài hơn nâng cao mũi thích ứng khi sử dụng máy phóng
  • Bỏ pylon giữa (để kéo dài bánh đáp trước)
  • Móc đuôi lớn kiểu stinger giữa hai động cơ
  • Thang lên buồng lái tích hợp vận hành bằng điện
  • Hệ thống hạ cánh trên tàu sân bay bằng vi sóng
  • Bệ quán tính “Telemir” có thể tương thích với các cải tiến của các hệ thống trên tàu sân bay.
Rafale N
Rafale N, trước kia được gọi là Rafale BM, được dự định là một phiên bản hai chỗ ngồi cho Aéronavale. Những khó khăn tài chính và chi phí huấn luyện tăng cao cho thêm một phi công nữa được coi là nguyên nhân dẫn tới việc nó bị hủy bỏ.

Hệ thống chiến đấu

Lần đầu tiên trong lịch sử hàng không, Rafale mang một hệ thống tồn tại điện tử tích hợp được đặt tên SPECTRA với tính năng tàng hình dựa trên kỹ thuật phần mềm ảo. Nhưng cảm biến quan trọng nhất là radar quét điện tử thụ động đa phương thức Thales RBE2. Thales tuyên bố đã đạt tới một mức độ nhận thức tình huống cao nhất từ trước tới nay thông qua việc thám sát và theo dõi sớm nhiều mục tiêu trên không cho cận chiến và can thiệp tầm xa, các bản đồ ba chiều thời gian thực cho việc theo dõi mặt đất, và các bản đồ thời gian thực độ phân giải cao mặt đất cho hoa tiêu và ngắm mục tiêu.

Tuy nhiên, trong những trường hợp cần sự điều khiển, Rafale có thể sử dụng nhiều hệ thống cảm biến thụ động:

hệ thống cảm biến điện quang học (electro optical system) phía trước (front-sector) hay Optroniques Secteur Frontal (OSF), do Thales phát triển, hoàn toàn được tích hợp bên trong máy bay và có thể hoạt động cả ở tầm sóng nhìn thấy được và sóng hồng ngoại.

Hệ thống chiến tranh điện tử SPECTRA, được hợp tác phát triển giữa Thales và EADS France, khiến chiếc máy bay có khả năng tổn tại cao nhất trước những mối đe dọa từ trên không và dưới mặt đất.[cần dẫn nguồn] Các đường nối dữ liệu thời gian thực cho phép máy bay không chỉ liên lạc với các máy bay khác, mà còn với các trung tâm chỉ huy và điều khiển cố định, di động dưới mặt đất. Khi nhiệm vụ đòi hỏi, Rafale cũng có thể dùng thiết bị chỉ định điện quang học/laser DAMOCLES khiến nó có đủ khả năng LGB đầy đủ trong cả điều kiện ban ngày lẫn ban đêm, dù Không quân hiện có kế hoạch sử dụng các vũ khí xa (stand off) cho Rafale và vai trò LGB cho những chiếc Mirage 2000.

Các hệ thống trung tâm của Rafale sử dụng một thiết bị Điện tử Modul Tích hợp (Integrated Modular Avionics – IMA), được gọi là Thiết bị Xử lý Dữ liệu Modul (Modular Data Processing Unit – MDPU). Cơ cấu này đảm nhận mọi chức năng chủ chốt của máy bay như một Hệ thống kiểm soát bay, Tổng hợp Dữ liệu, Kiểm soát bắn, Giao tiếp phi công-máy bay, vẫn vân..[1].

Đặc điểm chung

  • Đội bay: 1-2
  • Chiều dài : 15,27 m (50,1 ft)
  • Sải cánh : 10,80 m (35,4 ft)
  • Chiều cao : 5,34 m (17,4 ft)
  • Diện tích cánh: 45.7 m² (492 ft²)
  • Trọng lượng không tải : 9.060 kg (20.000 lb)
  • Trọng lượng có tải: 9.500 kg (21.000 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa : 24.500 kg (54.000 lb)
  • Động cơ : 2 x SNECMA M88-2 tuốc bin cánh quạt lực đẩy có đốt sau: 75 kN (17.000 lbf)

Đặc tính bay

  • Tốc độ tối đa : >Mach 2 (2.250 km/h)
  • Tầm hoạt động : 1.800 km (970 nm, 1.100 mi)
  • Trần bay : 18.000 m (60.000 ft)
  • Tốc độ lên cao : 333 m/s (65.600 ft/min)
  • Áp lực cánh: 326 kg/m² (83 1/3 lb/ft²)
  • Lực đẩy/trọng lượng: 1.13

Radar dẫn đường

Vũ khí

Trên 8000 kg vũ khí, bao gồm:

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Em này là chiếc tiêm kích của Pháp thứ 2 có mặt trong phi đoàn Chili Pepper P.A.N.D.O.R.A. Rafale M hiện đại hơn nhiều so với ‘tiền bối’ SEPECAT Jaguar A. Trang bị của phiên bản Rafale M của P.A.N.D.O.R.A hoàn toàn đáp ứng cho các nhiệm vụ đánh chặn trên biển. Cùng với sự phối hợp của các tiêm kích khác trong phi đoàn như F/A-18 Hornet, F-14 Tomcat, MiG-29, MiG-23, F-15E Strike Eagle và F-4S Phantom II có thể đẩy lùi các đợt tập kích bất ngờ từ phía biển của địch. Đối thủ giả định chính của phi đoàn P.A.N.D.O.R.A là các tiêm kích J-10, J-11 và JF-17 trong các cuộc tập trận quy mô gần đây tại các đảo không-xác-định tại biển Đông.

Rafale M còn tham gia các nhiệm vụ tập trận không-đối-hải, mục tiêu giả định là các tàu đổ bộ hạng nặng, tàu khu trục và tàu sân bay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s